BẢN TIN CẬP NHẬT VỀ HIỆN TƯỢNG ENSO VÀ NHẬN ĐỊNH XU THẾ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN TỪ THÁNG 9 NĂM 2021 ĐẾN THÁNG 02 NĂM 2022

BẢN TIN CẬP NHẬT VỀ HIỆN TƯỢNG ENSO VÀ NHẬN ĐỊNH XU THẾ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN TỪ THÁNG 9 NĂM 2021 ĐẾN THÁNG 02 NĂM 2022

1. Hiện tượng ENSO
Dự báo nhiệt độ mặt nước biển tại khu vực trung tâm Thái Bình Dương (khu vực NINO3.4) có xu hướng giảm nhưng vẫn duy trì ở trạng thái trung tính và nghiêng về pha lạnh cho tới những tháng đầu năm 2022.
2. Bão/ATNĐ và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm
Dự báo từ nay cho tới hết năm 2021, trên khu vực Biển Đông còn có khả năng xuất hiện khoảng 07-09 cơn bão/ATNĐ, trong đó có khoảng 03-04 cơn ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta.
Cần đề phòng các đợt mưa lớn xảy ra tập trung trong các tháng 10, tháng 11 và nửa đầu tháng 12/2021 ở các tỉnh Trung và Nam Trung Bộ, khả năng xảy ra mưa đặc biệt lớn và dồn dập như năm 2020 là thấp.
Không khí lạnh có khả năng hoạt động sớm từ cuối tháng 9 và đầu tháng 10/2021, các đợt rét đậm, rét hại trong mùa đông năm 2021-2022 có thể xảy ra sớm, tập trung nhiều trong thời kỳ từ khoảng giữa tháng 12/2021 cho đến tháng 02/2022.
Mùa mưa có khả năng kết thúc muộn; trong mùa khô, nhiều khả năng xuất hiện các đợt mưa trái mùa tại khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ.
3. Nhiệt độ
Trên phạm vi toàn quốc nhiệt độ trung bình phân bố không đồng đều trong các tháng, cụ thể: Trong các tháng từ 9-10/2021 và tháng từ 01-02/2022 nhiệt độ trung bình trên toàn quốc phổ biến ở mức cao hơn TBNN cùng thời kỳ khoảng 0,5-1,00C; riêng tháng 01-02/2022 từ Trung Bộ trở vào nhiệt độ trung bình ở mức xấp xỉ so với TBNN. Các tháng 11-12/2021 nhiệt độ trên phạm vi toàn quốc ở mức xấp xỉ so với TBNN.
Nắng nóng còn xảy ra trong nửa cuối tháng 8/2021 ở khu vực Bắc và Trung Trung Bộ nhưng cường độ không gay gắt.
Không khí lạnh có khả năng ảnh hưởng sớm, nhiệt độ trung bình mùa Đông năm 2021-2022 có xu hướng thấp hơn so với mùa Đông năm 2020-2021.
4. Lượng mưa
4.1. Khu vực Bắc Bộ
Tháng 9-10/2021, TLM phổ biến ở mức cao hơn TBNN từ 10-25%, riêng khu Tây Bắc TLM xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ.
Từ tháng 11/2021 đến tháng 02/2022, TLM phổ biến thấp hơn từ 10-25% so với TBNN.
4.2. Khu vực Trung Bộ
Tại Bắc Trung Bộ TLM tháng 9-10/2021 phổ biến cao hơn từ 20-40% so với TBNN cùng thời kỳ. Từ tháng 11/2021-02/2022 TLM thấp hơn so với TBNN từ 10-25%.
Khu vực Trung và Nam Trung Bộ trong các tháng 10-11/2021 TLM phổ biến cao hơn từ 15-30% so với TBNN cùng thời kỳ. Tháng 9/2021 và thời kỳ từ tháng 12/2021-02/2022 TLM phổ biến ở mức xấp xỉ TBNN; riêng Nam Trung Bộ trong tháng 12/2021 và tháng 01/2022 TLM cao hơn từ 10-25%.
4.3. Khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ
Từ tháng 9/2021 đến tháng 02/2022, TLM phổ biến cao hơn TBNN cùng thời kỳ từ 10-40%.
5. Thủy văn
5.1. Bắc Bộ
Đỉnh lũ từ tháng 9-10/2021 trên các sông phổ biến ở mức BĐ1, riêng đỉnh lũ trên sông Thao, sông Hoàng Long và các sông suối nhỏ ở mức BĐ1-BĐ2. Mực nước hạ lưu sông Hồng tại Hà Nội và hạ lưu sông Thái Bình ở mức dưới BĐ1. Lũ quét, sạt lở đất tiếp tục có nguy cơ cao xảy ra tại khu vực vùng núi, đặc biệt khu vực Tây Bắc và Việt Bắc.
Nguồn nước từ tháng 9/2021-02/2022 trên các lưu vực sông tiếp tục thiếu hụt so với TBNN từ 30-50%, riêng hạ lưu sông Lô và sông Hồng từ 60-70%.
5.2. Khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên        
Nửa cuối tháng 8/2021, mực nước thượng nguồn các sông từ Thanh Hóa đến Quảng Bình, Bình Thuận và khu vực Tây Nguyên có khả năng xuất hiện 1-2 đợt lũ nhỏ và dao động; các sông khác ở khu vực Trung Bộ biến đổi chậm và theo xu thế xuống dần.Trên một số sông có khả năng xuất hiện mực nước quan trắc thấp nhất trong chuỗi số liệu quan trắc cùng kỳ.
Tình hình hạn hán, thiếu nước cục bộ tại các tỉnh ven biển Trung Bộtừ Quảng Trị đến Ninh Thuận tiếp tục diễn ra đến đầu tháng 9/2021, sau giảm dần.
Từ tháng 9 đến tháng 12/2021, trên các sông ở Trung Bộ, Tây Nguyên xuất hiện các đợt lũ, đỉnh lũ năm 2021 tại hạ lưu các sông chính ở Bắc Trung Bộphổ biến ở mức BĐ1-BĐ2 và trên BĐ2; các sông từ Quảng Bình đến Bình Thuận, khu vực Tây Nguyên ở mức BĐ2-BĐ3 và trên BĐ3. Trên các sông suối nhỏ, vùng thượng lưu các sông Trung Bộ, Tây Nguyên khả năng xuất hiện lũ lớn, lũ quét và sạt lở đất. Tổng lượng dòng chảy trên các sông ở Trung Bộ và Bắc Tây Nguyên phổ biến ở mức thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 15-40%, riêng các sông ở Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên cao hơn TBNN cùng kỳ từ 10-30%.
Tháng 01-02/2022, mực nước trên các sông ở Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên biến đổi chậm và theo xu thế xuống dần.
5.3. Khu vực Nam Bộ
Lũ ở trên sông Mê Công đến muộn. Đỉnh lũ năm 2021 ở đầu nguồn sông Cửu Long dao động ở mức BĐ1 và xuất hiện vào giữa tháng 10; đỉnh lũ năm 2021 tại các trạm hạ lưu sông Cửu Long ở mức BĐ2-BĐ3, một số trạm trên BĐ3, nguy cơ cao xảy ra ngập lụt tại một số vùng trũng thấp, ven sông, đặc biệt tại thành phố Cần Thơ, Vĩnh Long.
Trong mùa khô 2021-2022, tổng lượng dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Công về hạ lưu khả năng thấp hơn TBNN (thời kỳ từ 2012-2020) từ 5-10%. Xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long đến sớm và cao hơn TBNN, nhưng không nghiêm trọng như mùa khô 2019-2020.
Các địa phương ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần sớm triển khai các biện pháp chủ động phòng chống hạn hán và xâm nhập mặn.
6. Hải văn
Từ tháng 10/2021 đến tháng 12/2021 tại khu vực ven biển Nam Bộ sẽ xuất hiện 03 đợt triều cường ở mức cao, cụ thể như sau: Đợt 1 từ ngày 08-10/10/2021; Đợt 2 từ ngày 05-09/11/2021 và Đợt 3 từ ngày 02-08/12/2021. Các đợt triều cường này có thể gây ngập lụt tại vùng trũng thấp ven biển Đông Nam Bộ và khu vực Thành phố Hồ Chí Minh nếu thời gian xuất hiện đỉnh triều cường trùng với thời kỳ có KKL cường độ mạnh lấn sâu xuống cùng biển phía Nam. Riêng đợt triều cường tháng 11/2021 và tháng 12/2021 có thể là đợt triều cường cao nhất năm 2021 và duy trì nhiều ngày (khoảng 01 tuần) và thời gian xuất hiện vào chiều tối (khoảng 15-18 giờ) nên có khả năng ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, sản xuất của người dân.

Chi tiết tin